TƯ LIỆU VỀ HỌ PHẠM Ở QUỸ ĐÊ, TRỰC HƯNG, TRỰC NINH, NAM ĐỊNH

TƯ LIỆU VỀ HỌ PHẠM Ở QUỸ ĐÊ,
TRỰC HƯNG, TRỰC NINH, NAM ĐỊNH

MỞ ĐẦU

1. Những tư liệu này nhằm trả lời một câu hỏi cụ thể: Ngôi từ đường mà chúng ta sắp xây dựng lại là để thờ những vị tổ nào?

2. Để có sự hiểu biết xác thực, cần ngược dòng lịch sử, tìm về cội nguồn, trước hết là đến tổ PHẠM THẾ TRƯNG, PHẠM TỬ ĐÔ, cách đây hơn 400 năm. Hơn nữa họ Phạm ở Quỹ Đê là một dòng thuộc phả hệ họ Ngô Việt nam. Vì vậy cần tiếp tục ngược lên đến dòng NGÔ CÔNG TÍN ở Bách Tính, dòng NGÔ KHẾ, NGÔ TỪ ở Đồng Phang - Thanh Hóa, rồi đến tổ NGÔ QUYỀN thế kỷ thứ X, và cuối cùng đến khởi tổ NGÔ NHẬT ĐẠI đầu thế kỷ thứ VIII.

3. Việc cung cấp những tư liệu tin cậy về dòng họ Phạm của chúng ta là rất cần thiết, nhưng cũng rất khó khăn. Công việc hệ trọng này đòi hỏi sự nỗ lực của nhiều người mới mong tránh được sự tuỳ tiện chủ quan.

Suốt 15 năm nay, từ ngày xây dựng lại từ đường năm 1995, tôi đã tìm đọc nhiều tài liệu, đối chiếu nhiều nguồn thông tin khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, mong làm rõ sự nối tiếp giữa các thế hệ của dòng họ trong chiều dài lịch sử hơn 13 thế kỷ (*). Dù cố gắng hết sức mình, nhưng cũng khó tránh khỏi những sai sót, bất cập. Mong được bà con cô bác xem xét, bổ sung, sửa chữa.

PHẦN I
TIẾP NỐI 23 ĐỜI PHẢ HỆ HỌ NGÔ VIỆT NAM

Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam, họ Phạm ở Quỹ Đê là đời thứ 24, được gọi là "DÒNG THỨ QUỸ ĐÊ - NGÔ CÔNG VẠN". Chính tổ NGÔ CÔNG VẠN (là con thứ) đã từ Bách Tính về quê mẹ ở Quỹ Đê, cải theo họ mẹ thành họ Phạm, tiếp nối 23 đời của phả hệ họ Ngô Việt Nam - một họ lớn đã tồn tại và phát triển qua hơn 13 thế kỷ, trải qua hơn 40 đời, với 448 Dòng/Chi hiện cư trú tại 390 xã/phường thuộc 135 huyện/quận của 30 tỉnh thành trong cả nước** và đã có những cống hiến hiển hách vào lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Khởi tổ: NGÔ NHẬT ĐẠI. Hào trưởng châu Phúc Lộc (Cửa Sót - Hà Tĩnh) tham gia khởi nghĩa Mai Thúc Loan (năm 722). Về sau thất bại, chuyển cư ra châu Ái (Thanh Hóa), lập nghiệp bằng nghề nông.

Đời thứ 2: NGÔ NHẬT DỤ, nổi tiếng là bậc Đại nho.

Đời thứ 3: NGÔ ĐÌNH HẠO.
Phả họ Phạm Quỹ Đê không ghi tên NGÔ ĐÌNH HẠO đời thứ 3, nên bỏ bớt một đời.

Đời thứ 4: NGÔ ĐÌNH THỰC. Hào trưởng.

Đời thứ 5: NGÔ ĐÌNH MÂN (NGÔ MÂN). Cụ bà là PHÙNG THỊ TỊNH PHONG, hậu duệ của PHÙNG HƯNG, quê quán ở Đường Lâm (Sơn Tây), sinh 2 con là Ngô Quyền và Ngô Tịnh.


Đời thứ 6: NGÔ QUYỀN (897 - 944)
Tiền Ngô Vương (938-944). Anh hùng dân tộc, dẹp tan quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng năm 938, kết thúc hoàn hoàn thời kỳ mất nước kéo dài hơn nghìn năm, mở ra thời kỳ độc lập lâu dài của dân tộc.
Sinh ở Đường Lâm, là con trưởng của NGÔ ĐÌNH MÂN (gốc châu Ái, Thanh Hóa, làm châu mục Đường Lâm thời Khúc Thừa Hạo) và PHÙNG THỊ TỊNH PHONG (người ở Đường Lâm, hậu duệ của PHÙNG HƯNG), mất ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Tý (944) ở Cổ Loa, táng trên đồi thôn Cam Lâm, Đường Lâm. Nay vẫn còn lăng và đền thờ ở Đường Lâm (ngoại thị Sơn Tây, Hà Nội).
NGÔ QUYỀN sinh ra 4 con: NGÔ XƯƠNG NGẬP, NGÔ XƯƠNG VĂN, NGÔ NAM HƯNG, NGÔ CĂN HƯNG.

Đời thứ 7: NGÔ XƯƠNG NGẬP (… - 954). Con trưởng của Tiền Ngô Vương, kế vị ngôi vua, bị Dương Tam Kha cướp ngôi, sau giành lại được ngôi vua, hiệu là Thiên Sách Vương.
Sinh 2 con là NGÔ XƯƠNG XÍ VÀ NGÔ XƯƠNG TỶ.

Đời thứ 8: NGÔ XƯƠNG XÍ. Con trưởng của NGÔ XƯƠNG NGẬP, là người kế vị ngôi vua sau khi HẬU NGÔ VƯƠNG - NGÔ XƯƠNG VĂN tử trận năm 965. Lúc này có loạn 12 sứ quân. Năm 967, ĐINH BỘ LĨNH dẹp tan các sứ quân. NGÔ XƯƠNG XÍ về ẩn cư ở vùng Thượng du châu Ái (Thanh Hóa).
Sinh 2 con là NGÔ XƯƠNG SẮC VÀ NGÔ ÍCH VỆ.

Đời thứ 9: - NGÔ XƯƠNG SẮC, con trưởng của NGÔ XƯƠNG XÍ.
Ẩn cư ở Thượng du châu Ái (Thanh Hóa)
- NGÔ ÍCH VỆ, con thứ của NGÔ XƯƠNG XÍ, sinh ra NGÔ AN NGỮ (đời thứ 10). NGÔ AN NGỮ sinh ra NGÔ TUẤN (1019 - 1105) tức LÝ THƯỜNG KIỆT (đời thứ 11), anh hùng dân tộc, phá Tống, bình Chiêm, giữ vững biên cương Tổ quốc.
Ngành trưởng tiếp: NGÔ XƯƠNG SẮC sinh ra NGÔ TỬ ÁN.

Đời thứ 10: NGÔ TỬ ÁN, con trưởng của NGÔ XƯƠNG SẮC.
Phụ quốc Triều Tiền Lê. Năm 980 LÊ HOÀN lên ngôi vua, NGÔ TỬ ÁN là một trong những trụ cột của vương triều LÊ ĐẠI HÀNH. NGÔ TỬ ÁN sinh ra NGÔ TỬ UY.

Đời thứ 11: NGÔ TỬ UY

Đời thứ 12: NGÔ TỬ VĨNH

Đời thứ 13: NGÔ ĐẮC DŨNG

Đời thứ 14: NGÔ ĐẤU LĂNG

Đời thứ 15: NGÔ HỮU LIÊU
Đại lão Hương quan
(một chức quan ở làng, được nể trọng)

Đời thứ 16: NGÔ MA LƯ
Đại lão Hương quan

Đời thứ 17: NGÔ RÔ (… - 1336)
Đại toát Thái lão Hương quan, là Đời thứ nhất của hệ phả Đồng Phang (Yên Định, Thanh Hóa)
Sinh ra NGÔ TÂY.

Đời thứ 18: NGÔ TÂY
Tặng phong Hổ Bôn tướng quân, Thụy Tường hầu
Sinh ra NGÔ TRỪNG, NGÔ KINH VÀ NGÔ LAN TOÀN.

Đời thứ 19: NGÔ KINH (1350 - 1430). Con thứ của NGÔ TÂY.
Bảo chính công thần, nhập nội hành khiển thượng tướng quân, Thái phó - Kiến tường hầu - Hưng quốc công.
Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn.
Sinh 4 con trai NGÔ TỪ, NGÔ ĐỨC, NGÔ KHIÊM, NGÔ ĐAM và 1 con gái NGÔ THỊ NGỌC SÁCH.

Đời thứ 20: NGÔ TỪ (1370 - 1453) là con cả của NGÔ KINH, cùng cha tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, là người phục vụ vua Lê Lợi từ nhỏ (hơn vua Lê Lợi 15 tuổi), được phong Bình Ngô khai quốc Đệ nhất công thần, Phụ quốc chính gia đại trí tự, Diên Ý Dụ Vương (Duyên Ý Dụ Vương?)
NGÔ TỪ có 2 bà vợ, sinh được 19 con cả trai và gái, trong đó có bà NGÔ THỊ NGỌC DAO là Tiệp dư của vua LÊ THÁI TÔNG, sinh ra vua LÊ THÁNH TÔNG, được suy tôn là Quang Thục Hoàng Thái hậu.
Em bà NGÔ THỊ NGỌC DAO là NGÔ KHẾ.

Đời thứ 21: NGÔ KHẾ (1426 - 1514), con thứ của NGÔ TỪ
Hiệp mưu Thuần tín Tá lý Đồng đức Hoàng tôn công thần, Cố mệnh đại thần, Tư đồ thượng trụ quốc, Thái úy Thanh quốc công.
NGÔ KHẾ sinh 11 con trai (phả không ghi con gái): NGÔ NƯỚC (NGÔ NÔI?), NGÔ QUÂN HIÊN, NGÔ PHÚC CƠ, NGÔ NGUYÊN, NGÔ CÔNG TÍN, NGÔ PHÚC ĐỘ, NGÔ KHẮC CUNG, NGÔ VĂN BÍNH, NGÔ THẾ BANG, NGÔ THẾ THÁI, NGÔ NGỌC PHÁC. Trong đó có 6 con "cư biệt quán" (ở xa quê), đặc biệt lưu ý là NGÔ CÔNG TÍN.

Đời thứ 22: NGÔ CÔNG TÍN là một trong sáu con của NGÔ KHẾ "cư biệt quán", lánh ẩn về Bách Tính (nay thuộc xã Nam Hồng, huyện Nam Trực, Nam Định) khởi đầu Dòng Bách Tính của phả hệ họ Ngô Việt Nam.
Sinh ra Thái bảo Tây Quận công (Phả không viết gì về tên huý, tên hiệu).

Đời thứ 23: NGÔ… Thái bảo Tây Quận công
là con của NGÔ CÔNG TÍN, sinh 2 con trai: con trưởng là NGÔ VIẾT LỄ ở Bách Tính và con thứ là NGÔ CÔNG VẠN về quê mẹ ở Quỹ Đê.
Phả họ Phạm Quỹ Đê không ghi tên Thái bảo Tây Quận công và cho rằng "Cụ NGÔ CÔNG TÍN sinh cụ NGÔ CÔNG VẠN", như thế là bỏ bớt một đời. Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam, NGÔ CÔNG TÍN là ông nội của NGÔ CÔNG VẠN.



PHẦN II
HỌ PHẠM Ở QUỸ ĐÊ

Đời thứ 24: Tổ NGÔ CÔNG VẠN - VỊ TỔ ĐẦU TIÊN CỦA HỌ PHẠM Ở QUỸ ĐÊ.
NGÔ CÔNG VẠN là con thứ của Thái bảo Tây Quận công rời Bách Tính về quê mẹ ở Quỹ Đê cải theo họ mẹ. Phả họ Phạm Quỹ Đê được gọi là "Phả họ Ngô tòng mẫu tính cải vi Phạm thị" (theo họ mẹ cải thành họ Phạm).
Tổ NGÔ CÔNG VẠN sinh ra NGÔ TỬ ĐÔNG - tức PHẠM TỬ ĐÔ, hay còn gọi là PHẠM NHƯ ĐẲNG.

Đời thứ 25: Tổ PHẠM TỬ ĐÔ sinh 3 con: con trưởng PHẠM HỮU SỐ, con thứ là PHẠM THẾ TRƯNG, con thứ ba là PHẠM THẾ LÂN.
Lý lịch Di tích Đền Quỹ Đê thờ PHẠM THẾ TRƯNG ghi "Thân phụ của PHẠM THẾ TRƯNG là PHẠM HỮU SỐ, ông nội là PHẠM TỬ ĐÔ". Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam, PHẠM HỮU SỐ và PHẠM THẾ TRƯNG là anh em, chứ không phải là cha con, PHẠM TỬ ĐÔ và PHẠM THẾ TRƯNG là cha con chứ không phải là ông cháu.

Đời thứ 26: Tổ PHẠM THẾ TRƯNG là một vị KHAI QUỐC CÔNG THẦN, NGƯỜI TIÊU BIỂU CHO HỌ PHẠM Ở QUỸ ĐÊ.
PHẠM THẾ TRƯNG (1541 - 1606), kỵ nhật 27-4, tên tự là NGHIÊM HUÂN, làm quan dưới 2 triều vua Lê (Hậu Lê), được 2 đạo sắc phong là Khai quốc công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Thái bảo Chân Quận công.
PHẠM THẾ TRƯNG là vị tướng tài đã từng giúp nhà Lê Trung Hưng khôi phục lại đất nước.
PHẠM THẾ TRƯNG là nhà tổ chức khai khẩn đất hoang rất sáng tạo. Sau khi cáo quan về quê, PHẠM THẾ TRƯNG xin phép mộ dân khai phá hàng ngàn mẫu ruộng, xây dựng làng xóm yên vui, tạo điều kiện sống ấm no cho hàng ngàn người trên vùng đất rộng lớn phía Nam huyện Trực Ninh ngày nay (Quỹ Đê thời đó rất rộng, gồm 4 thôn: Thượng thôn, Trung thôn, Ngoại thôn, Nội thôn, nay thuộc các xã Trực Hưng, Trực Mỹ, Trực Khang, Trực Nội và Trực Thuận).
Đôi câu đối sơn son thiếp vàng treo ở đền thờ đã nói lên công lao to lớn của tổ PHẠM THẾ TRƯNG:
Lê quốc sơn hà do tái tạo
Quỹ dân địa mạch tự sơ cơ
(Non nước thời Lê nhờ công tái lập
Đất đai làng Quỹ, cậy sức dựng xây)
Đền thờ và lăng mộ tổ PHẠM THẾ TRƯNG tại thôn Nhật Tân, xã Trực Hưng được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Nam Định, ngày 19/8/2002.
Tổ PHẠM THẾ TRƯNG sinh được 4 con trai: PHẠM THẾ LƯƠNG, PHẠM THẾ PHẢ, PHẠM HỮU BẢN và PHẠM HỮU TƯ.
Cả bốn vị đều được phong tước Hầu.

Đời thứ 27: Tổ PHẠM HỮU TƯ (có tài liệu ghi PHẠM HỮU CƯ) là con thứ tư của tổ PHẠM THẾ TRƯNG, ngành thứ ba (vì PHẠM THẾ PHẢ vô tự).
Tả hiệu điểm Quỳnh Nhai hầu.
Sinh 2 con trai: PHẠM HỮU QUÝ và PHẠM HỮU DỤNG.

Đời thứ 28: Tổ PHẠM HỮU QUÝ. Con cả của tổ PHẠM HỮU TƯ.
Sinh 2 con là PHẠM KHẮC KÍNH và PHẠM TẤT CỐNG

Đời thứ 29: Tổ PHẠM KHẮC KÍNH. Con cả của tổ PHẠM HỮU QUÝ.
Sinh 2 con là PHẠM KHẮC KHOAN và PHẠM CÔNG TRIỀU

Đời thứ 30: Tổ PHẠM CÔNG TRIỀU. Con thứ của tổ PHẠM KHẮC KÍNH.
Sinh 5 con là PHẠM TẤT ĐẮC, PHẠM CÔNG LỄ, PHẠM CÔNG PHU, PHẠM CÔNG XƯNG và PHẠM CÔNG RO.

Đời thứ 31: Tổ PHẠM CÔNG LỄ. Con thứ của tổ PHẠM CÔNG TRIỀU. Sinh ra tổ PHẠM CÔNG NHẠC.

Đời thứ 32: Tổ PHẠM CÔNG NHẠC
Sinh 4 con: PHẠM THU HIỆU, PHẠM CÔNG UẨN, PHẠM ĐÌNH NHAI và PHẠM ĐÌNH HUY

Đời thứ 33: Ngành trưởng PHẠM THU HIỆU sinh ra 3 con là PHẠM DUỆ CƠ, PHẠM ĐÌNH TÚC, PHẠM ĐÌNH HOÀN. PHẠM DUỆ CƠ sinh ra PHẠM NGỌC ĐƯỜNG ==> PHẠM NGỌC PHAN ==> PHẠM ĐÌNH TƯỢNG ==> PHẠM VĂN ĐỘ ==> PHẠM VĂN LƯỢNG ("cụ Xã Lượng") (Đời thứ 39)
- Ngành thứ PHẠM CÔNG UẨN, con thứ của tổ PHẠM CÔNG NHẠC.
Sinh 6 con: PHẠM VĂNG ĐANG, PHẠM VĂN TÔN, PHẠM KIM CHUNG, PHẠM NHƯ QUỸ, PHẠM VĂN NHƯƠNG và PHẠM VĂN TRÌNH.

Đời thứ 34: Tổ PHẠM KIM CHUNG, con thứ ba của tổ PHẠM CÔNG UẨN.
Sinh 5 con: PHẠM KIM NGỮ, PHẠM KIM TỰ, PHẠM KIM DANH, PHẠM KIM CƠ, PHẠM KIM DUY

Đời thứ 35: Tổ PHẠM KIM CƠ (PHẠM TRI CƠ), kỵ nhật 7-3, là con thứ tư của tổ PHẠM KIM CHUNG.

Đời thứ 36: Tổ PHẠM ĐÌNH TRÀNG (thường gọi là "Cụ TRƯỞNG"), kỵ nhật 29-7.
Sinh ra các con PHẠM VĂN NHÂM, PHẠM ĐÌNH TÀI, PHẠM ĐÌNH NHƯỠNG ( cụ TỔNG NHƯỠNG), và PHẠM ĐÌNH QUYỀN.

Đời thứ 37: Tổ PHẠM VĂN NHÂM (thường gọi là "Cụ LÝ NHÂM"), kỵ nhật 1-10. Cụ bà nhũ danh ĐOÀN THỊ MÀU, kỵ nhật 15-5.
Tổ PHẠM VĂN NHÂM sinh được 4 con trai là kỵ PHẠM VĂN NHAM, PHẠM VĂN NGHĨA, PHẠM VĂN MÃO, PHẠM VĂN KỶ.

Đời thứ 38: Kỵ PHẠM VĂN NHAM, con trưởng của tổ PHẠM VĂN NHÂM, kỵ PHẠM VĂN NGHĨA (thường gọi là “cụ Chánh Nghĩa” ) con thứ, kỵ PHẠM VĂN MÃO con thứ ba, kỵ PHẠM VĂN KỶ con thứ tư.

***


Đến đây có thể khẳng định rằng: Ngôi từ đường mà chúng ta sắp xây dựng lại là để thờ tổ PHẠM KIM CƠ, PHẠM ĐÌNH TRÀNG, và các vị kế tiếp – các bậc sinh thành và dưỡng dục cha mẹ, ông bà, cụ, kỵ của chúng ta, những người thuộc các Đời thứ 39,40, 41, 42, 43,44.
Rất mong các bác, các cô chú, các anh chị và các cháu sửa chữa, bổ sung và ghi tiếp tư liệu về các chi, càng cụ thể càng tốt.

Quỹ Đê, ngày 7 tháng 3, năm Canh Dần (20 - 4 - 2010)
Ngày giỗ tổ PHẠM KIM CƠ

Người tập hợp và phân tích tư liệu
PHẠM KHIÊM ÍCH


Ghi chú:
* Bản trình bày này dựa trên nhiều nguồn tư liệu lịch sử, chủ yếu là:
1/ "Phả hệ họ Ngô Việt Nam" do Giáo sư Ngô Vi Thiện chủ biên, với sự cộng tác của các vị NGÔ VUI, NGÔ QUANG NAM, GS. VŨ KHIÊU, GS. ĐINH XUÂN LÂM. NXB Văn hóa - Thông tin năm 2003
2/ "Gia phả họ Ngô tòng mẫu tính cải vi Phạm thị" do các vị Phạm Văn Sính, Phạm Văn Hoàn phiên dịch và biên soạn năm 1989, có sự tham gia của các vị Phạm Văn Phố, Phạm Văn Hỷ, Phạm Văn Rung, Phạm Văn Mật, Phạm Văn Mai, gọi tắt là "Phả họ Phạm Quỹ Đê"
3/ "Lý lịch di tích lịch sử - văn hóa Đền Quỹ Đê thờ Phạm Thế Trưng" do Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Nam Định công bố tháng 6 năm 2002.
** Ở đây chỉ ghi địa chỉ của các Dòng/Chi đã thống kê được. Còn các cá nhân và gia đình mang họ Ngô ( và họ Phạm ở Quỹ Đê) thì cư trú ở cả 63 tỉnh thành và ở nhiều nước trên thế giới.

Quay lại trang trước - Quay lại trang chủ

 

© 2011 - Bản quyền thuộc về dòng họ Phạm ở Quỹ Đê, Nam Định
Thiết kế bởi Alice Nguyễn và Phạm Nam Hương
Email: nganphuong@gmail.com